De thi HSG mon van 2012 - 2013.doc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Văn Hiệu (trang riêng)
Ngày gửi: 17h:39' 01-10-2012
Dung lượng: 49.0 KB
Số lượt tải: 25
Nguồn:
Người gửi: Phạm Văn Hiệu (trang riêng)
Ngày gửi: 17h:39' 01-10-2012
Dung lượng: 49.0 KB
Số lượt tải: 25
Số lượt thích:
0 người
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
GIA Lộc
KỲ THI HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN
Năm học 2012-2013
Môn: Ngữ văn - lớp 9 Thời gian: 150 phút (Không kể thời gian giao đề)
Câu 1. (3.0 điểm)
Nhà thơ Nguyễn Duy kết thúc bài thơ Ánh trăng bằng hình ảnh:
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
Theo em, cái “giật mình” ấy cho ta hiểu gì về nhân vật trữ tình trong bài thơ? Điều em nhận thức được từ hai câu thơ trên?
Câu 2. (7.0 điểm)
Từ cuộc đời của Vũ Nương - nhân vật trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, Thúy Kiều - nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, em cảm nhận được điều gì về thân phận và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến?
HẾT
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
GIA Lộc
KỲ THI HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN
Năm học 2012-2013
Môn: Ngữ văn - lớp 9
Thời gian: 150 phút (Không kể thời gian giao đề)
HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu 1. (3.0 điểm)
1. Yêu cầu:
Học sinh hiểu được ý nghĩa biểu trưng của hình ảnh vầng trăng trong bài thơ. Khổ thơ cuối có tính chất triết lý nhẹ nhàng mà sâu sắc là nơi cô đọng ý nghĩa và vẻ đẹp của hình ảnh vầng trăng và chủ đề của tác phẩm.
1.1. Từ sự đối lập “Trăng cứ tròn vành vạnh - kể chi người vô tình”, Nguyễn Duy kết thúc: “ánh trăng im phăng phắc - đủ cho ta ta giật mình”, học sinh cần chỉ ra:
+ Tâm trạng của nhà thơ trước vầng trăng hiền dịu và trang nghiêm xuất hiện đột ngột;
+ Tình cảm và thái độ của nhà thơ trong cái “giật mình” cuối bài thơ (giật mình trước sự vô tình dễ có ở mình, ở một thế hệ từng trải qua chiến tranh nay được sống trong hòa bình có thể lãng quên nghĩa tình quá khứ)
1.2. Nêu suy nghĩ về tình cảm, thái độ của nhân vật trữ tình (trân trọng trước sự thức tỉnh) và bài học của bản thân (thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.
2. Biểu điểm:
- 1.1: 2,0 điểm (mỗí ý nhỏ: 1,0 điểm)
- 1.2: 1,0 điểm (suy nghĩ về nhân vật trữ tình: 0,5 điểm; bài học cho bản thân: 0,5 điểm)
Câu 2. (7.0 điểm)
1. Yêu cầu:
a. Về kỹ năng: Vận dụng kiểu bài nghị luận về nhân vật văn học để phân tích, bình giá, tổng hợp, khái quát vấn đề. Cụ thể: phân tích, nhận xét, đánh giá 2 nhân vật: Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương), Thúy Kiều (Truyện Kiều) để tổng hợp khái quát vấn đề: thân phận và vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong Kiến. Bài viết có luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ; biết sử dụng các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm; văn viết trong sáng, mạch lạc, giàu cảm xúc.
b. Về nội dung:
+ Dẫn dắt và đặt vấn đề về thân phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến; giới thiệu một cách khái quát về 2 nhân vật: Vũ Nương và Thúy Kiều
+ Nêu và phân tích được những đặc điểm chung nhất của hai nhân vật về thân phận và vẻ đẹp:
* Thân phận: thân phận của những con người chịu nhiều bất công, oan ức và bị chà đạp về nhân phẩm;
* Vẻ đẹp: vẻ đẹp của nhan sắc, tâm hồn; vẻ đẹp của khát vọng tình yêu, hạnh phúc và quyền sống;
+ Tổng hợp khái quát: Số phận Vũ Nương, Thúy Kiều hội đủ những bi kịch của người phụ nữ, là “tấm gương oan khổ”; Vẻ đẹp của Vũ Nương, Thúy Kiều là vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.
+ Nêu giá trị nhân đạo toát lên từ hình tượng nhân vật: tiếng nói cảm thương sâu sắc trước số phận bi kịch và tiếng nói khẳng định, ngợi ca con người và những khát vọng chân chính của con người.
2. Biểu điểm:
Điểm 7: Bài làm đạt được những yêu cầu trên và có tính sáng tạo.
Điểm 5-6: Bài viết phân tích được những đặc điểm chung nhất của hai nhân vật; biết nhận xét
 








Các ý kiến mới nhất